Bài này sẽ giải thích minh họa quá trình của một doanh nghiệp công chúng hóa và biến vốn cổ phần của mình thành nhiều cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
1. Bảng cân đối kế toán.
Để kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có tài sản, phải có tiền mặt, phải có nguyên vật liệu, phải có hàng hóa, phải có thiết bị cho nhân viên làm việc, trụ sở, phòng ốc và có khi là có cả nhà máy nếu sản xuất.
Toàn bộ tài sản này sẽ được tài trợ bởi hai nguồn vốn chính.
Nguồn vốn thứ nhất là vốn vay, là do doanh nghiệp vay từ người thân, vay từ đối tác, vay từ ngân hàng và vay qua hình thức phát hành trái phiếu.
Nguồn vốn thứ hai rất quan trọng là vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc về các cổ đông. Vốn chủ sở hữu có ba thành phần:
- Thành phần thứ nhất là cổ phần góp vốn của các cổ đông.
- Thành phần thứ hai là thặng dư vốn.
- Thành phần thứ ba là lợi nhuận chưa phân phối.
2. Báo cáo kết quả kinh doanh.

Doanh nghiệp bán hàng và dịch vụ sẽ tạo ra doanh thu.
- Doanh thu trừ đi giá vốn hàng bán = Lợi nhuận gộp.
- Lợi nhuận gộp trừ đi chi phí bán hàng và chi phí quản lý công ty = Lợi nhuận trước thuế.
- Lợi nhuận trước thuế trừ thuế thu nhập doanh nghiệp = Lợi nhuận sau thuế.
Lợi nhuận sau thuế hay còn gọi là lợi nhuận ròng sẽ được đưa vào thành phần “Lợi nhuận giữ lại chưa phân phối” thuộc vốn chủ sở hữu.
Doanh nghiệp có 2 lựa chọn:
- Chia lợi nhuận chưa phân phối này cho cổ đông, gọi là chia cổ tức.
- Giữ lại lợi nhuận chưa phân phối để hỗ trợ cho tài sản cố định và tài sản lưu động nhằm tăng trưởng doanh nghiệp, gọi là tái đầu tư.
3. Ví dụ minh họa doanh nghiệp Hai Rau Cải.
Doanh nghiệp Hai Rau Cải được thành lập bởi anh Hai, kinh doanh rau cải và thực phẩm.
3.1. Vốn cổ phần ban đầu 100 tỷ.
Doanh nghiệp này có tổng số vốn ban đầu là 100 tỷ. Anh Hai góp 60 tỷ. Anh Tư, anh Năm, anh Sáu và anh Bảy mỗi người góp 10 tỷ.
Tổng cộng là 100 tỷ. Vào ngày thành lập công ty, bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Hai Rau Cải như sau:
- Tổng tài sản là 100 tỷ.
- Vốn vay chưa có, Nợ = 0.
- Vốn chủ sở hữu là 100 tỷ.
Trong đó:- Vốn cổ phần là 100 tỷ.
- Thặng dư vốn là 0 đồng.
- Lợi nhuận chưa phân phối là 0 đồng.
Do tình hình thị trường thuận lợi và tài năng kinh doanh của anh Hai cũng như ban giám đốc, doanh nghiệp kinh doanh rất hiệu quả. Chỉ mất 3 năm để hòa vốn.
Sang năm thứ 4, doanh nghiệp Hai Rau Cải đã có lợi nhuận khủng. Lợi nhuận lũy kế, tức là tổng lỗ và lợi nhuận, từ năm đầu tiên đến năm thứ 5 là 15 tỷ.
Các cổ đông của Hai Rau Cải đã đồng ý không chia cổ tức mà giữ lại toàn bộ số lợi nhuận tích lũy này để tái đầu tư, nâng cấp nhà máy, mở rộng hệ thống chi nhánh nhằm hỗ trợ cho sự tăng trưởng mạnh mẽ của doanh nghiệp.
3.2. Gọi thêm vốn từ anh N. Tăng vốn cổ phần 120 tỷ.
Năm thứ 6, doanh nghiệp lại có lợi nhuận rất tốt là 18 tỷ, như vậy tổng lợi nhuận chưa phân phối là 33 tỷ.
Cũng vào năm thứ 6, công ty quyết định tăng vốn để đầu tư vào một dây chuyền sản xuất hiện đại hơn.
Anh N là một nhà đầu tư lớn. Trước đây anh từ chối rót vốn vào doanh nghiệp Hai Rau Cải, nay thấy doanh nghiệp Hai Rau Cải kinh doanh tốt, anh N đã quyết định đầu tư và hai bên đồng ý định giá doanh nghiệp Hai Rau Cải cơ bản là 300 tỷ.
Tại sao doanh nghiệp được định giá là 300 tỷ thì bạn xem thêm phần định giá trong WikiMoney nhé.
Giá trị 300 tỷ này lớn gấp 3 lần số vốn của phần 100 tỷ, thì chúng ta gọi là 3 chấm, nghĩa là anh N chấp nhận đầu tư vào doanh nghiệp Hai Rau Cải với mức 3 lần mức vốn gốc.
Như vậy, 60 tỷ của anh N sẽ chia thành 2 phần:
- Phần 1: Vốn cổ phần, bằng 60 tỷ chia cho 3 là 20 tỷ.
- Phần 2: Gọi là thặng dư vốn.
Như vậy, tổng số vốn góp của anh N là 60 tỷ.
Nhắc lại: Anh N góp 60 tỷ nhưng chỉ 20 tỷ được tính vào vốn cổ phần. Còn lại 40 tỷ là thặng dư vốn.
Thặng dư vốn là một thành phần của vốn chủ sở hữu.
Đây là cơ cấu vốn cổ phần sau khi anh N góp vốn:
- Anh Hai: 60 tỷ trên 120 tỷ là 50%.
- Anh Tư, anh Năm, anh Sáu, anh Bảy: mỗi người 10 tỷ trên vốn của phần 120 tỷ, tức là mỗi người sẽ có 8,33%.
- Anh N: có vốn của phần là 20 tỷ chia cho 120 tỷ là 16,67%.
- Thặng dư vốn: 40 tỷ do anh N đóng góp.
- Lợi nhuận chưa phân phối lúc này là 15 tỷ cộng với 18 tỷ bằng 33 tỷ.
Vốn chủ sở hữu = 120 tỷ vốn cổ phần + 40 tỷ thặng dư vốn + 33 tỷ lợi nhuận chưa phân phối = 193 tỷ.
3.3. Quỹ Q góp thêm 40 tỷ. Tăng vốn cổ phần lên 160 tỷ.
Năm thứ 7, doanh nghiệp Hai Rau Cải có lợi nhuận là 21 tỷ, như vậy tổng lợi nhuận chưa phân phối = 33 + 21 = 54 tỷ.
Cũng năm thứ 7, quỹ đầu tư Q, một quỹ đầu tư doanh nghiệp tư nhân (Private Equity), mong muốn đầu tư vào doanh nghiệp Hai Rau Cải với mục tiêu đưa công ty niêm yết lên sàn chứng khoán.
Sau một thời gian đàm phán, hai bên đồng ý giá trị của doanh nghiệp Hai Rau Cải trước đầu tư (tiếng Anh gọi là Pre-Money Valuation) là 336 tỷ. Con số này = 2,8 lần số vốn cổ phần hiện tại của Hai Rau Cải là 120 tỷ. Tức là phi vụ đầu tư này là 2,8 chấm.
Quỹ đầu tư mong muốn sở hữu 25% của doanh nghiệp Hai Rau Cải sau đầu tư.
Nếu gọi x là vốn của phần của quỹ, thì chúng ta có phương trình:
x = 25% * (120 + x)
Giải phương trình này, chúng ta sẽ ra x bằng 40 tỷ.
Như vậy, tổng số tiền đầu tư sẽ là = 40 * 2,8 = 112 tỷ.
Số tiền 112 tỷ này sẽ chia làm 2 phần:
- Vốn cổ phần là 40 tỷ.
- Thặng dư vốn = 112 – 40 = 72 tỷ.
Sau khi quỹ Q đầu tư vào doanh nghiệp:
- Anh Hai: chiếm 60 tỷ trên 160 tỷ bằng 37,5%.
- Anh Tư, anh Năm, anh Sáu, anh Bảy: mỗi người 10 tỷ, tương đương với 6,25%.
- Nhà đầu tư N: 20 tỷ trên 160 tỷ bằng 12,5%.
- Quỹ Q: 40 tỷ trên 160 tỷ bằng 25%.
Tổng cộng là 100%.
- Thặng dư vốn = 40 + 72 = 112 tỷ.
- Lợi nhuận chưa phân phối = 33 + 21 = 54 tỷ.
- Vốn chủ sở hữu = 160 tỷ vốn cổ phần + 112 tỷ thặng dư vốn + 54 tỷ lợi nhuận chưa phân phối = 326 tỷ.
3.4. Phát hành vốn ra công chúng. Tăng vốn cổ phần lên 200 tỷ.
Năm thứ 8, doanh nghiệp Hai Rau Cải tạo ra lợi nhuận là 30 tỷ, tổng lợi nhuận chưa phân phối = 54 + 30 = 84 tỷ.
Cũng năm thứ 8, doanh nghiệp Hai Rau Cải lên kế hoạch IPO, tức là Initial Public Offering (phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng) và niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán.
Để phát hành cổ phiếu ra công chúng, doanh nghiệp Hai Rau Cải chia vốn cổ phần ra những cổ phần nhỏ có mệnh giá là 10.000 đồng. Như vậy, tổng số vốn cổ phần của doanh nghiệp Hai Rau Cải là 160 tỷ sẽ tương đương với 16 triệu cổ phần.
Ngoài 16 triệu cổ phần đó, doanh nghiệp Hai Rau Cải tiến hành làm thủ tục xin phát hành 4 triệu cổ phần ra công chúng với giá 50.000 đồng một cổ phần. Tức là phát hành với giá 5 chấm, và thu được 200 tỷ.
Số vốn 200 tỷ huy động được dùng để xây dựng nhà máy mới, mua sắm thiết bị và bổ sung vốn lưu động.
Số vốn 200 tỷ này sẽ có 40 tỷ là vốn cổ phần và 160 tỷ là thặng dư vốn. Giá phát hành 50.000 đồng một cổ phần: trong đó 10.000 đồng là mệnh giá (tức là vốn cổ phần), và 40.000 đồng là thặng dư vốn.
Đây là minh họa của vốn chủ sở hữu sau khi doanh nghiệp Hai Rau Cải phát hành thêm 4 triệu cổ phần ra công chúng:
- Tổng vốn cổ phần lúc này là 200 tỷ.
- Anh Hai: 60 tỷ, tương đương = 60/200 = 30%.
- Anh Tư, anh Năm, anh Sáu, anh Bảy: mỗi người 10 tỷ, = 10/200 = 5%.
- Nhà đầu tư N: 20 tỷ, chiếm = 20/200 = 10%.
- Quỹ đầu tư Q: 40 tỷ, chiếm = 40/200 = 20%.
- Toàn bộ công chúng: 40 tỷ, = 20/200 = 20%.
- Thặng dư vốn cổ phần = 112 + 160 = 272 tỷ.
- Lợi nhuận chưa phân phối = 54 + 30 = 84 tỷ.
- Tổng vốn chủ sở hữu = 200 tỷ vốn cổ phần + 272 tỷ thặng dư vốn + 84 tỷ lợi nhuận chưa phân phối = 556 tỷ.
3.5. Niêm yết cổ phiếu lên sàn chứng khoán.
Sau khi phát hành 4 triệu cổ phiếu ra công chúng, doanh nghiệp Hai Rau Cải đã làm thủ tục để niêm yết toàn bộ 20 triệu cổ phiếu lên sàn chứng khoán. Và kết quả là doanh nghiệp Hai Rau Cải đã niêm yết thành công toàn bộ số cổ phiếu của mình với giá 65.000 đồng.
Nhà đầu tư trên sàn chứng khoán đã mua qua bán lại cổ phiếu này như là một công cụ, một tài sản đầu tư.
Giá cổ phiếu Hai Rau Cải sau 1 tháng đã đạt mức 73.000 đồng. Và sau đó, có lúc nó lên 90.000 đồng, có lúc nó về giá 34.000 đồng.
Bạn hãy đọc những bài về chủ đề Giá vs Giá trị cổ phiếu để hiểu tại sao giá cổ phiếu của Hai Rau Cải lại lên xuống, biến động như vậy.
Tác giả: Lâm Minh Chánh
























































































































)
)